Với tinh thần đổi mới mạnh mẽ tư duy quản trị y tế, Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra mục tiêu xây dựng một hệ thống y tế lấy người dân làm trung tâm, bảo đảm chăm sóc sức khỏe toàn diện theo vòng đời. Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan khẳng định, phát triển y tế dự phòng, củng cố y tế cơ sở và từng bước thực hiện chính sách miễn viện phí trong phạm vi bảo hiểm y tế sẽ tạo ra những thay đổi căn bản, đáp ứng kỳ vọng của nhân dân trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Mặc dù còn nhiều thách thức trong triển khai Nghị quyết, tuy nhiên, Bộ trưởng Đào Hồng Lan khẳng định, ngành y tế nhận thức vai trò đặc biệt quan trọng của công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân và đang gấp rút đưa Nghị quyết số 72-NQ/TW vào cuộc sống.
Phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc phỏng vấn bà Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Y tế về chương trình hành động của Bộ để hiện thực hóa Nghị quyết 72.

Phóng viên: Nghị quyết số 72-NQ/TW được xem là bước đột phá trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Bộ Y tế đánh giá đâu là các nội dung cốt lõi và mục tiêu trọng tâm nhất mà ngành y tế phải đạt được trong giai đoạn tới?
Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan: Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ-TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tiếp tục thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của mỗi người dân để hướng đến mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam khoẻ mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khoẻ, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, ý thức bảo vệ sức khỏe và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.
Đây là nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, toàn diện và lâu dài, mang tính chất hành động, là “Nghị quyết để thực hiện Nghị quyết” với nhiều chính sách bổ sung, tăng cường, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối trước đây, đưa ra những nhiệm vụ và giải pháp “đột phá” nhằm tháo gỡ, khơi thông các “điểm nghẽn”, “nút thắt”, khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và kỳ vọng của nhân dân.
Phóng viên: Trong 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đặt ra trong Nghị quyết, Bộ Y tế xác định đâu là giải pháp “đột phá trong đột phá”?
Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan: Nghị quyết xác định 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đột phá và trách nhiệm trong tổ chức thực hiện. Trong đó, một trong những điểm nhấn quan trọng của Nghị quyết số 72-NQ/TW là chuyển mạnh từ tư duy tập trung “chữa bệnh” sang “phòng bệnh”, lấy y tế dự phòng và y tế cơ sở làm nền tảng và người dân sẽ được tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng, quản lý sức khỏe toàn diện ngay tại Trạm y tế cấp xã; đẩy mạnh cải cách tài chính y tế và phát triển hiệu quả, bền vững chính sách bảo hiểm y tế hướng đến “miễn viện phí” cho người dân là giải pháp “đột phá trong đột phá”.

Phóng viên: Theo Bộ trưởng, Nghị quyết đã tạo ra những thay đổi căn bản nào đối với hệ thống y tế Việt Nam - từ dự phòng, khám chữa bệnh, đến quản trị và chất lượng dịch vụ?
Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan: Quan điểm chỉ đạo, mục tiêu và các giải pháp thực hiện của Nghị quyết 72 sẽ tạo ra những thay đổi căn bản đối với hệ thống y tế Việt Nam như sau:
Thứ nhất, khẳng định tầm quan trọng của công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là mục tiêu, là động lực, là nhiệm vụ chính trị hàng đầu giữ vị trí ưu tiên trong các chiến lược, chính sách phát triển, là vấn đề lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực, thuộc trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và mọi người dân. Trên cơ sở đó cần thực hiện đổi mới mạnh mẽ tư duy và hành động cả trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Ưu tiên các chỉ tiêu về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế-xã hội.
Thứ hai, thay đổi tư duy đối với vấn đề sức khỏe: Nghị quyết đã khẳng định các yếu tố tác động đến sức khỏe không chỉ là vấn đề y tế mà bao gồm tổng thể các yếu tố môi trường sống, làm việc, học tập, hành vi, lối sống, chế độ dinh dưỡng hợp lý, bảo đảm an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, tăng cường thể dục thể thao, trật tự, an toàn giao thông, an toàn vệ sinh lao động, phòng, chống cháy nổ, tai nạn, thương tích, bạo lực gia đình... Trên cơ sở đó, Nghị quyết xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp mang tính tổng thể, đồng bộ, đa chiều cả về sức khỏe, môi trường, kinh tế-xã hội, an ninh trật tự, truyền thông, giáo dục...
Thứ ba, chuyển mạnh từ tư duy tập trung khám bệnh, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, chú trọng bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe toàn diện, liên tục theo vòng đời; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục sức khỏe, đề cao ý thức phòng bệnh, lối sống lành mạnh, xây dựng văn hóa sức khỏe trong nhân dân và xác định rõ người dân thực sự là chủ thể trong chăm sóc sức khỏe, có trách nhiệm nâng cao ý thức tự giác, thói quen, nếp sống lành mạnh, chủ động rèn luyện, bảo vệ và nâng cao sức khỏe, từ đó đẩy mạnh phong trào toàn dân chủ động chăm sóc sức khỏe, hướng đến mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam khỏe mạnh, nâng cao ý thức bảo vệ sức khỏe và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội.

Thứ tư, hệ thống y tế dự phòng cần được kiện toàn, nâng cao theo hướng hiện đại, đủ năng lực giám sát, cảnh báo sớm, khống chế kịp thời dịch bệnh và chủ động tổ chức triển khai các hoạt động phòng, chống dịch bệnh từ sớm, từ xa, từ cơ sở, sẵn sàng ứng phó với các tình huống khẩn cấp về y tế công cộng.
Phóng viên: Việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe đòi hỏi đổi mới từ hệ thống y tế cơ sở đến bệnh viện tuyến cuối. Bộ Y tế dự kiến cải thiện hiệu quả hoạt động của từng tuyến như thế nào để bảo đảm người dân được tiếp cận dịch vụ tốt hơn?
Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan: Chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế phụ thuộc vào 3 yếu tố quan trọng là nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và cơ chế tài chính. Do đó để nâng cao chất lượng dịch vụ để người dân được tiếp cận dịch vụ tốt hơn, Bộ Y tế tập trung đối với mỗi yếu tố như sau:
Về nhân lực, Bộ Y tế ưu tiên bố trí, huy động nguồn lực, có cơ chế, chính sách vượt trội để phát triển nhân lực bảo đảm đồng bộ về số lượng, chất lượng, cơ cấu, nhất là nhân lực ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, biển đảo. Trạm y tế cấp xã sẽ được củng cố, bảo đảm cơ cấu nhân lực, đủ số lượng bác sĩ theo chức năng, nhiệm vụ; duy trì đội ngũ nhân viên y tế thôn, tổ dân phố, cô đỡ thôn bản, cộng tác viên dân số theo chức năng, nhiệm vụ.

Công tác đào tạo sẽ được đặc biệt quan tâm, Bộ Y tế sẽ triển khai quyết liệt, hiệu quả Đề án đào tạo, bồi dưỡng bác sĩ tạo nguồn cho trạm y tế cấp xã, đặc biệt cho các xã vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo. Tập trung đầu tư phát triển một số cơ sở đào tạo lĩnh vực sức khỏe chất lượng cao ngang tầm khu vực. Thực hiện đào tạo chuyên sâu đặc thù trình độ sau đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân trong lĩnh vực sức khỏe do Bộ Y tế quản lý.
Về cơ sở vật chất, thuốc, thiết bị y tế: Cơ bản sẽ bảo đảm cung ứng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cơ sở y tế nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo. 100% trạm y tế cấp xã được đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị y tế cơ bản theo chức năng, nhiệm vụ. Bộ Y tế tham mưu, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm nguồn cung vaccine duy trì sự ổn định, an toàn, kịp thời; đồng thời chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan thúc đẩy đầu tư, khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nghiên cứu, sản xuất vắc xin, từng bước làm chủ công nghệ, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của Chương trình Tiêm chủng mở rộng và sẵn sàng ứng phó với các dịch bệnh mới nổi.
Về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy: Trạm y tế cấp xã được tổ chức theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập, bảo đảm cung ứng dịch vụ cơ bản, thiết yếu về phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám bệnh, chữa bệnh và các dịch vụ chăm sóc xã hội; ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí chi thường xuyên và đầu tư cho y tế cơ sở, y tế dự phòng. Có cơ chế tài chính phù hợp để huy động mọi nguồn lực xã hội đầu tư cho lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp y tế công. Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong bảo đảm tài chính, đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị y tế cho y tế cơ sở, y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe cho người thuộc đối tượng chính sách xã hội.

Phóng viên: Nghị quyết đặt ra mục tiêu cải thiện chất lượng dịch vụ, hướng tới hài lòng người dân. Bộ Y tế sẽ theo dõi, đánh giá và đo lường mức độ hài lòng của người dân theo những tiêu chí nào?
Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan: Chất lượng dịch vụ y tế gồm nhiều yếu tố: chất lượng chuyên môn y tế và chất lượng dịch vụ chăm sóc người bệnh, bao gồm cả việc tổ chức cung ứng dịch vụ cho người dân, điều kiện chăm sóc, tinh thần, thái độ phục vụ. Bộ Y tế đã có các giải pháp để tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và đo lường mức độ hài lòng của người dân, cụ thể:
Về cải thiện chất lượng dịch vụ, Bộ Y tế đang tiếp tục xây dựng Bộ Tiêu chuẩn chất lượng bệnh viện nâng cao nhằm mục đích nâng cao toàn diện chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, thúc đẩy quản lý chất lượng bệnh viện theo hướng bền vững, hội nhập quốc tế.
Bộ Y tế tập trung đổi mới nâng cao chất lượng chuyên môn bằng giải pháp chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới, nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và tay nghề cho đội ngũ thầy thuốc, nhân viên y tế.

Để đánh giá các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tại các xã, phường, đặc khu, Bộ sẽ điều chỉnh Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn đến năm 2030 theo Quyết định số 1300/QĐ-BYT ngày 9/3/2023 để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của trạm y tế xã. Trong thời gian qua và thời gian tiếp theo, Bộ Y tế thực hiện nhiều giải pháp quyết liệt nhằm chấn chỉnh việc thực hiện quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ y tế.
Bộ Y tế sẽ tăng cường chỉ đạo cơ sở y tế tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; đổi mới phong cách, thái độ phục vụ người bệnh, tăng cường giáo dục y đức…; tiếp tục triển khai Đề án nâng cao năng lực chuyên môn, hỗ trợ đào tạo, chuyển giao kỹ thuật và phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh giai đoạn 2026-2030 Đề án phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026-2030 để nâng cao chất lượng dịch vụ tuyến dưới; đổi mới đánh giá chất lượng cơ sở y tế nhằm từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ.
Về đo lường sự hài lòng của người dân, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 56/QĐ-BYT ngày 8/01/2024 hướng dẫn thực hiện phương pháp đo lường hài lòng của người dân giai đoạn 2024-2030. Định kỳ hàng năm các bệnh viện, trung tâm y tế khu vực có cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh, các trạm y tế cung cấp dịch vụ tiêm chủng mở rộng thực hiện tự đánh giá sự hài lòng của người bệnh, người sử dụng dịch vụ. Ngoài ra, Bộ Y tế, Sở Y tế triển khai các khảo sát độc lập. Kết quả khảo sát là cơ sở để các đơn vị và ngành y tế nhận diện và ưu tiên các lĩnh vực cần cải thiện chất lượng, từ đó nâng cao sự hài lòng của người dân.
Phóng viên: Bộ Y tế nhìn nhận đâu là thách thức lớn nhất khi đưa Nghị quyết vào thực tế? Bộ có kế hoạch gì để giải quyết các rào cản trong quá trình thực thi?
Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan: Việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 72 đứng trước nhiều khó khăn, thách thức có thể kể đến như sau:
Thứ nhất, về bối cảnh tình hình kinh tế, xã hội trên thế giới, khu vực đang có những diễn biến phức tạp, kinh tế thế giới có những bất ổn định có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và từ đó ảnh hưởng tới nguồn tài chính cho y tế. Về tình hình trong nước, Nghị quyết 72 ban hành trong bối cảnh tốc độ già hóa dân số ngày càng nhanh, tình hình dịch bệnh mới nổi, tái nổi có những diễn biến phức tạp, gánh nặng bệnh tật của các bệnh không lây nhiễm gia tăng, chi phí y tế ngày càng cao, chênh lệch về chất lượng y tế, tiếp cận dịch vụ y tế giữa các vùng miền, nhóm dân cư, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo.
Thứ hai, một trong những điểm mới của Nghị quyết số 72 đã đề ra là cần chuyển mạnh từ tư duy tập trung khám bệnh, chữa bệnh sang bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe toàn diện cho người dân cả về trí lực, thể lực, tầm vóc, tuổi thọ và số năm sống khỏe mạnh theo tuổi thọ, thực hiện quản lý sức khoẻ toàn diện theo vòng đời.
Tuy nhiên, những ảnh hưởng tiêu cực của thời kỳ công nghiệp hóa như ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, chất thải công nghiệp, hành vi, lối sống như tiêu thụ thực phẩm ăn nhanh, ít vận động, áp lực công việc…không phải có thể cải thiện dễ dàng trong thời gian ngắn. Điều này đòi hỏi sự chủ động thực hiện và phối hợp chặt chẽ của nhiều bộ, ngành, cơ quan, đơn vị liên quan.

Thứ ba, nguồn nhân lực y tế trong những năm qua đã có sự gia tăng đáng kể về số lượng và chất lượng, tuy nhiên, tình trạng thiếu nhân lực ở y tế cơ sở, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, sự phân bổ bất hợp lý giữa các chuyên ngành vẫn còn cần nhiều nỗ lực cải thiện. Đào tạo nhân lực y tế đòi hỏi thời gian dài và điều kiện đào tạo đặc thù, vừa học vừa làm, học tập suốt đời nên sẽ phải kết hợp cả giải pháp căn cơ và giải pháp trước mắt.
Thứ tư, chi phí y tế ngày càng tăng. Theo báo cáo tình hình quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm y tế, tổng chi từ quỹ bảo hiểm y tế cho khám chữa bệnh của người dân ngày càng tăng nhanh qua các năm, năm 2022 là 107.599 tỷ đồng, năm 2023 là 124.300 tỷ đồng, năm 2024 là 141.439,7 tỷ đồng.
Sự gia tăng này do gia tăng lượt khám chữa bệnh, các kỹ thuật y tế kỹ thuật cao, thuốc, thiết bị y tế mới ngày càng phát triển, mô hình, cơ cấu bệnh tật thay đổi, các bệnh mạn tính, không lây nhiễm như ung thư, tim mạch, đái tháo đường… gây áp lực lên Quỹ BHYT. Tỷ lệ bao phủ BHYT tiến gần 95% dân số, nhưng mức độ bảo vệ tài chính chưa cao, tỷ lệ chi từ tiền túi của hộ gia đình cho chăm sóc y tế của người dân Việt Nam vẫn còn cao 37,4% (năm 2021), năm 2025 khoảng 35%.
Thứ năm, mô hình chi trả chi phí khám chữa bệnh BHYT cần tiếp tục hoàn thiện để tối ưu hóa, nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ nhất là trong bối cảnh giá dịch vụ y tế còn chưa được tính đủ các yếu tố cấu thành. Hiện nay, các cơ sở khám chữa bệnh chủ yếu áp dụng phương thức thanh toán theo giá dịch vụ, dễ dẫn tới lạm dụng, tăng chi phí y tế, trong khi đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số của hệ thống y tế còn chưa đồng bộ, việc đầu tư hạ tầng ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho liên thông dữ liệu bảo hiểm y tế còn chậm, công tác giám định bảo hiểm y tế, thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế còn vướng mắc, bất cập, chi phí y tế của người dân tự chi trả còn cao.
Thách thức lớn nhất khi đưa Nghị quyết vào thực tế đó là việc thực hiện sáp nhập các tỉnh để thực hiện sắp xếp chính quyền địa phương theo mô hình 2 cấp phần nào ảnh hưởng đến quá trình rà soát, khảo sát để xây dựng các nội dung và giải pháp triển khai thực hiện các nhiệm vụ. Năng lực của Trạm y tế sau triển khai chính quyền 2 cấp ở địa phương còn nhiều khó khăn.
Do vậy, khi triển khai các nhiệm vụ cần được sự quan tâm của cấp ủy, cơ quan các địa phương về nguồn lực con người và cơ sở vật chất để nâng cao năng lực của trạm y tế xã, phường. Đồng thời, các bộ, ngành, địa phương chủ động triển khai nhiệm vụ theo phân công của Chính phủ để triển khai hiệu quả Nghị quyết 282/NQ-CP về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 72-NQ/TW; phối hợp chặt chẽ trong xây dựng, ban hành các hướng dẫn, cơ chế, chính sách về quản lý, chuyên môn kỹ thuật để thực hiện đầy đủ, đúng tiến độ các nhiệm vụ. Chính quyền các cấp quan tâm huy động nguồn lực, bố trí đủ nhân lực tham gia thực hiện các Chương trình, Đề án; phân công rõ trách nhiệm các cơ quan triển khai thực hiện.

Phóng viên: Trong định hướng dài hạn, Bộ Y tế kỳ vọng Nghị quyết này sẽ tạo thay đổi cơ bản nào cho ngành y tế Việt Nam trong 5-10 năm tới?
Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan: Đất nước đang đứng trước ngưỡng cửa lịch sử để bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Các nội dung Nghị quyết 72-NQ/TW đã được quán triệt và triển khai đến toàn bộ các đảng bộ, chi bộ và đảng viên.
Toàn ngành y tế quán triệt, nhận thức đầy đủ về vai trò đặc biệt quan trọng của công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; triển khai các giải pháp để thực hiện quan điểm đổi mới mạnh mẽ tư duy quản trị ngành y tế, tạo môi trường quản trị minh bạch và trách nhiệm giải trình gắn với cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền triệt để, trước hết từ công tác coi trọng vai trò và tập trung nguồn lực cho hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật.

Do vậy, với những chính sách, giải pháp để khắc phục các tồn tại, hạn chế, tập trung giải quyết các vấn đề mới, quan trọng có tầm ảnh hưởng lớn; trong thời gian tới sẽ tạo hiệu quả rõ nét trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân để đáp ứng mong muốn, kỳ vọng của nhân dân về y tế, hướng đến xây dựng một nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe cả về thể chất, tinh thần, có ý thức bảo vệ sức khỏe và chủ động phòng ngừa bệnh tật; góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.
Phóng viên: Từ thực tiễn triển khai, Bộ Y tế kiến nghị những cơ chế, chính sách mới nào cần được đưa vào văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhằm tạo đột phá cho ngành y tế?
Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan: Bộ Y tế đề xuất một số cơ chế, chính sách mới đưa vào văn kiện Đại hội nhằm tạo đột phá cho ngành y tế.
Một là, sắp xếp hệ thống y tế tinh gọn, hiệu quả, phù hợp mô hình chính quyền 3 cấp, bảo đảm liên kết, hỗ trợ kịp thời giữa các cấp chuyên môn của hệ thống y tế. Xây dựng một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đảm nhận chức năng vùng; hình thành, phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu, hiện đại; phát triển dịch vụ y tế kỹ thuật cao. Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ít nhất 1 bệnh viện đạt cấp chuyên sâu; có bệnh viện lão khoa hoặc bệnh viện đa khoa có chuyên khoa lão khoa. Phát triển các cơ sở chăm sóc người cao tuổi.
Hai là, chuyển mạnh từ tư duy tập trung khám bệnh, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh. Tổ chức lại, củng cố và nâng cao năng lực của hệ thống y tế cơ sở, y tế dự phòng đủ mạnh để mọi người dân được tiếp cận, sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu có chất lượng, nhất là người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Bảo đảm cho mọi người dân được khám sức khoẻ định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân ít nhất mỗi năm 1 lần theo nhóm đối tượng và lộ trình ưu tiên. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về y tế; mỗi người dân được lập sổ sức khoẻ điện tử, kết nối đồng bộ, quản lý dữ liệu sức khoẻ theo vòng đời. Triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khoẻ, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035.
Ba là, thực hiện chính sách ưu đãi tương xứng với quan điểm nghề y là nghề đặc biệt, phải được đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt. Ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài, đội ngũ trí thức, chuyên gia có chất lượng cao trong lĩnh vực y tế từ nước ngoài vào Việt Nam đầu tư và làm việc; đưa sinh viên giỏi, cán bộ y tế đi đào tạo chuyên sâu ở các nước có thế mạnh, kinh phí được chi trả từ các chương trình học bổng.

Bốn là, ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí chi thường xuyên và đầu tư cho y tế cơ sở, y tế dự phòng. Từng bước thực hiện chính sách miễn viện phí, trước hết là đối với đối tượng chính sách xã hội, người yếu thế, người có thu nhập thấp và một số đối tượng cần ưu tiên khác trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế theo lộ trình; phấn đấu đến năm 2030, người dân được miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế. Tổ chức thực hiện thí điểm, đa dạng hóa các gói bảo hiểm y tế, bảo hiểm y tế bổ sung theo nhu cầu của người dân.
Năm là, đẩy mạnh phát triển y tế tư nhân, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển y tế. Không áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các cơ sở y tế công lập, tư nhân hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Cho phép áp dụng hình thức cho thuê công trình thuộc sở hữu nhà nước đối với cơ sở y tế tư nhân theo quy định.
Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!
Theo nhandan.vn